Thứ Năm, 12 tháng 3, 2020

Hô biến Smartphone thành camera quan sát cực dễ với 3 bước

Hô biến Smartphone thành camera quan sát cực dễ với 3 bước

nếu bạn có một chiếc smartphone Android hoặc iPhone cũ và không còn sử dụng, bạn có thể tận dụng nó làm thiết bị giám sát an ninh cho ngôi nhà của bạn. Bài viết này sẽ hướng dẫn bạn chi tiết cách thực hiện.
Những thứ bạn sẽ cần
- Một chiếc smartphone iOS hoặc Android cũ, dĩ nhiên rồi.
- Một kết nối Wi-Fi ổn định hoặc kết nối 3G/4G cho smartphone cũ.
- Một sợi cáp sạc smartphone Android hoặc iOS.
- Một củ sạc hoặc một viên pin dự phòng để cấp nguồn cho điện thoại.
Cài đặt smartphone cũ thành camera giám sát
Bước 1: Tải về và cài đặt ứng dụng Alfred cho thiết bị iOS hoặc Android bạn muốn sử dụng làm thiết bị giám sát.
Bước 2: Khi quá trình cài đặt hoàn tất, bạn mở ứng dụng từ biểu tượng trên màn hình chính. Alfred sẽ hiển thị màn hình giới thiệu tính năng, cũng như cách cài đặt ứng dụng. Bạn có thể lướt qua màn hình này để hiểu rõ hơn về nó, nếu muốn. Ngược lại, bạn bấm nút Skip ở phía trên góc phải hoặc bấm nút Get Started/Try it out ở dưới cùng của màn hình chuyển đến màn hình cài đặt.
Bước 3: Tiếp theo, bạn đăng nhập bằng tài khoản Google bất kỳ. Để đảm bảo quyền riêng tư, chúng tôi khuyến khích bạn sử dụng tài khoản Google phụ thay vì tài khoản chính cho việc này.
Sau khi đăng nhập thành công, bạn cần cấp các quyền truy cập cần thiết cho ứng dụng như chụp ảnh và quay video, ghi âm...
Bây giờ, bạn mở trình đơn của ứng dụng bằng cách vuốt từ cạnh trái của màn hình sang bên phải, sau đó chọn Camera settings. Tại đây, bạn có thể tinh chỉnh các thông số camera như khả năng ghi âm (audio), chế độ tập trung (focus mode), phát hiện chuyển động (motion detection), tự động mở ứng dụng sau khi điện thoại khởi động lại (open after restart), và đặt mật khẩu (passcode lock). Nếu không muốn tinh chỉnh, bạn có thể giữ tất cả cài đặt như mặc định.
Đến đây, bạn cơ bản đã hoàn tất quá trình biến smartphone cũ thành camera giám sát. Nếu bạn sở hữu thiết bị có màn hình OLED, bạn có thể bấm nút hình ổ khóa để bật chế độ tiết kiệm điện năng, đồng thời khóa màn hình. Lưu ý, bạn đừng bấm nút Home hoặc nút Nguồn vì thao tác này sẽ tắt Camera và Wi-Fi ngay lập tức.
Cố định camera và cấp nguồn cho thiết bị
Bây giờ, bạn cần tìm một vị trí an toàn để đặt thiết bị giám sát. Bạn có thể sử dụng giá đỡ ba chân (tripod) hoặc giá đỡ điện thoại bất kỳ để cố định thiết bị. Những vị trí cần giám sát thường là cổng ra vào ngôi nhà hoặc những nơi bạn cất giữ đồ vật có giá trị.
Vì quá trình truyền tải video trực tiếp tốn rất nhiều điện năng, thiết bị của bạn sẽ cạn pin một cách nhanh chóng. Bởi vậy, bạn cần kết nối sạc vào điện thoại để sạc nó liên tục. Trường hợp bạn không giám sát thường xuyên, bạn có thể sử dụng sạc dự phòng để cấp nguồn cho camera.
Giám sát ngôi nhà của bạn từ thiết bị khác
Đến đây bạn đã hoàn toàn hoàn tất quá trình cài đặt camera giám sát, giờ là lúc bạn giám sát ngôi nhà của mình từ thiết bị khác. Bạn có thể theo dõi camera từ rất nhiều thiết bị khác nhau bao gồm cả máy tính và điện thoại di động.

Tìm hiểu về Covid 19

Đại dịch COVID-19,[4][5] còn được gọi là dịch viêm phổi cấp do chủng mới của virus corona (viết tắt: NCP, do Trung Quốc gọi) hay đơn giản hơn là dịch virus corona, là một đại dịch truyền nhiễm gây ra bởi virus SARS-CoV-2 đang ảnh hưởng đến Trung Quốc đại lục, cùng với nhiều trường hợp ở hơn 110 quốc gia và vùng lãnh thổ khác, bắt đầu bùng phát từ tháng 12 năm 2019 tại thành phố Vũ Hán thuộc tỉnh Hồ Bắc ở miền Trung Trung Quốc, khi một nhóm người bị viêm phổi không rõ nguyên nhân, đã tiếp xúc chủ yếu với những người buôn bán làm việc tại chợ bán buôn hải sản Hoa Nam, nơi bán động vật sống và được cho là địa điểm bùng phát dịch bệnh đầu tiên – điều này vẫn đang còn nhiều tranh cãi. Các nhà khoa học Trung Quốc sau đó đã phân lập được một loại coronavirus mới, được WHO lúc đó tạm thời gọi là 2019-nCoV,[a] có trình tự gen giống ít nhất 79,5% với SARS-CoV trước đây.

 Sự lây nhiễm từ người sang người đã được xác nhận cùng với tỉ lệ bùng phát dịch tăng nhanh vào giữa tháng 1 năm 2020.[10] Thời gian ủ bệnh từ 2 đến 14 ngày,[b][12] đã có bằng chứng rằng bệnh có thể truyền nhiễm trong khoảng thời gian này và trong vài ngày sau khi hồi phục. Triệu chứng phổ biến của bệnh bao gồm sốt, ho và khó thở, có thể gây thiệt mạng trong trường hợp nghiêm trọng.

Vào đêm ngày 11 tháng 3 năm 2020 theo giờ Việt Nam, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã chính thức tuyên bố dịch COVID-19 là đại dịch toàn cầu

Covid 19 16/03

Covid 19 16/03: Cập nhật tin tức Covid 19 ngày 16/03/2020

Covid 19 14/03

Covid 19 14/03: Cập nhật tin tức Covid 19 ngày 14/03/2020

Covid 19 15/03

Covid 19 14/03: WHO tuyên bố COVID-19 là đại dịch, bước kế tiếp là gì?

TTO - Trong cuộc họp báo ngày 11-3, Tổng giám đốc Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã tuyên bố dịch bệnh COVID-19 là 'đại dịch'. Vậy ý nghĩa sau tuyên bố đã được WHO phải rất thận trọng mới đưa ra này là gì?

Trước hết, đây là lần đầu tiên WHO tuyên bố dịch bệnh do một chủng virus corona gây là đại dịch, dù trước đây từng có hai dịch bệnh khác cũng do virus corona chủng khác gây ra là SARS và MERS.
WHO đã luôn đánh giá dịch bệnh này và chúng tôi hết sức lo ngại cả về các cấp độ lây lan báo động, mức độ nghiêm trọng lẫn việc không có phản ứng ở mức đáng lo ngại (với dịch bệnh - PV). Chính vì thế chúng tôi đưa ra đánh giá COVID-19 là một đại dịch.
Trong cuộc họp báo, ông Tedros Adhanom Ghebreyesus, tổng giám đốc WHO, đã giải thích vì sao WHO phải tuyên bố COVID-19 là đại dịch
Dù vậy, ông Tedros cũng lưu ý việc định danh COVID-19 là một đại dịch không có nghĩa là tình hình đã trở nên vô vọng. "Mọi quốc gia vẫn có thể kiểm soát dịch bệnh này".
Theo tạp chí Time, tới ngày 11-3 toàn thế giới đã ghi nhận hơn 126.000 ca bệnh ở hơn 110 quốc gia và vùng lãnh thổ.
"Đại dịch" khác "dịch bệnh" thế nào?
Trước hết, theo từ điển dịch tễ học, nguồn tham khảo tiêu chuẩn của các nhà dịch tễ học, "đại dịch" (pandemic) là "một dịch bệnh (epidemic) xảy ra trên toàn thế giới, hoặc trên một vùng rộng lớn, vượt qua cả các biên giới quốc tế và thường ảnh hưởng tới một số lượng người rất lớn".
Một điều quan trọng cần nhớ là từ "đại dịch" chỉ nói tới quy mô bao nhiêu khu vực trên thế giới đang phải ứng phó với cấp độ lây lan gia tăng của bệnh dịch, và về lý thuyết, không nói tới mức độ nghiêm trọng của căn bệnh đó.
Chẳng hạn năm 2009 bệnh cúm H1N1 được WHO công bố là một đại dịch vì đã có tới 1/5 cư dân toàn thế giới mắc bệnh. Tuy nhiên bệnh này không gây nguy hiểm chết người lớn khi tỉ lệ người chết trong dịch chỉ là 0,02%.
Các chủng virus corona trước đây cũng rất nguy hiểm, nhưng chưa bao giờ gia tăng cấp độ trở thành đại dịch trên toàn thế giới. Nói cách khác, việc tuyên bố một dịch bệnh là "đại dịch" là chuyện khá hiếm.
Dịch SARS giai đoạn 2002-2003, do một chủng virus corona cùng họ với virus SARS-CoV-2 hiện nay, mặc dù đã lây nhiễm cho khoảng 8.000 người ở 26 quốc gia nhưng cũng chủ yếu xảy ra tại Trung Quốc và Hong Kong, và vẫn chưa tới mức là đại dịch dù tỉ lệ tử vong là 10%.
Khi dịch bệnh này nhanh chóng được kiểm soát và kể từ năm 2004, không còn ca bệnh SARS nào xuất hiện.
Tương tự, chủng virus corona gây ra dịch MERS (bắt đầu khởi phát từ Saudi Arabia) mặc dù có tỉ lệ tử vong khoảng 35% nhưng đã lây lan không quá nhanh. MERS vẫn chưa hoàn toàn bị loại bỏ, song nó cũng chưa bao giờ là đại dịch.
Bác sĩ Anthony Fauci - giám đốc Viện Dị ứng và bệnh truyền nhiễm quốc gia Mỹ, hồi tháng 2 từng nói quan niệm về đại dịch có thể khác nhau theo quan điểm mỗi người. Nhưng theo tạp chí Vox (Mỹ), khi các chuyên gia y tế cộng đồng nói tới nỗi lo ngại về một đại dịch mới, tức là họ đang nghĩ tới nguy cơ xảy ra đại dịch kiểu như đại dịch cúm giai đoạn 1918-1919 (ảnh hưởng tới 500 triệu người và ít nhất 50 triệu người đã chết).
Nguồn: TTO

Lắp đặt camera ở Sài Gòn bảo vệ an ninh cho người dân

Lắp đặt camera ở Sài Gòn bảo vệ an ninh cho người dân - Camera an ninh là một công cụ quan trọng để điều tra của cảnh sát tại thành phố Hồ C...